Những chiến công hiển hách trong đời vua Trần Nhân Tông đã đi vào lịch sử nước nhà, trở thành những mốc son chói sáng muôn đời. Đối địch với những đạo quân được xem là thiện chiến nhất thế giới vào thời bấy giờ, đã từng chinh phục nhiều vùng rộng lớn từ Âu sang Á, quân dân nhà Trần dưới sự lãnh đạo tối cao của vua Trần Nhân Tông đã phát huy được tối đa sức mạnh đoàn kết trong tinh thần dân chủ, với quyết tâm đồng lòng chống giặc ngoại xâm, đã gây tổn thất không ngờ cho đại quân xâm lược với sức mạnh tưởng chừng vượt trội quân ta. Đặc biệt, có nhiều trận đánh dân quân tự phát không nằm trong dự kiến của triều đình cũng đã góp phần đẩy lui quân giặc.

Chúng tôi điểm lại các mốc thời gian quan trọng trong hai cuộc kháng chiến dưới triều Trần Nhân Tông để bạn đọc dễ dàng cùng chúng tôi hồi tưởng lại những trang sử vàng son của nước Việt. Mọi chi tiết và thời gian đều căn cứ vào Đại Việt Sử Ký toàn thư, và vì thế xin lưu ý rằng ngày tháng được sử dụng trong toàn thư này đều là theo âm lịch.

 

  • Tháng 8 năm 1282 - có tin quân Nguyên chuẩn bị xâm lược
  • Tháng 10 năm 1282 - Vua Trần Nhân Tông tổ chức Hội nghị Bình Than
  • Tháng 7 năm 1283 – quân Nguyên hội quân 50 vạn, chuẩn bị xâm lược.
  • Tháng 10 năm 1283 – vua thân hành điều quân thủy bộ tập trận, phong Hưng Đạo Vương làm Quốc công Tiết chế, thống lãnh quân đội.
  • Tháng 8 năm 1284 – Hưng Đạo Vương bố trí quân đội phòng thủ những nơi hiểm yếu
  • Tháng 12 năm 1284 – Quân Nguyên viện cớ mượn đường đánh Chiêm Thành, bắt đầu động binh sang nước ta. Vua cùng Thượng hoàng Thánh Tông triệu tập Hội nghị bô lão ở điện Diên Hồng, đồng lòng quyết tâm chống giặc ngoại xâm.
  • Ngày 26 tháng 12 năm 1984, quân Nguyên tấn công Vĩnh Châu, Nội Bàng, Thiết Lược,  Chi Lăng. Quân ta rút về Vạn Kiếp. Hưng Đạo Vương tiếp tục hội quân tại đây.
  • Mồng 6 tháng giêng  năm 1285, Ô Mã Nhi tấn công vào Vạn Kiếp và núi Phả Lại, quân ta rút lui.
  • Ngày 12 tháng giêng năm 1285, quân Nguyên đánh tiếp đến Gia lâm, Vũ Ninh, Đông Ngàn (thuộc tỉnh Bắc Ninh), quân ta rút tiếp. Vua sai Đỗ Khắc Chung đi sứ cầu hòa để dò xét tình hình quân địch.
  • Ngày 28 tháng giêng năm 1285, Hưng Đạo Vương bàn tính mang quân chặn đánh nguyên soái Toa Đô ở Nghệ An, lúc đó đang từ hướng Chiêm Thành đánh sang phía nam nước ta, tạo thế gọng kềm với quân của Thoát Hoan để tiêu diệt quân ta.
  • Tháng 4 năm 1285,  quân  ta giao chiến ở Hàm Tử Quan, quân Nguyên thua chạy.
  • Mồng 3 tháng 5 năm 1285, Vua và Thượng hoàng đích thân chỉ huy đánh giặc ở Trường Yên, thắng lớn.
  • Mồng 7 có tin báo Toa Đô từ Thanh Hóa mang quân đến.
  • Ngày mồng 10 lại có tin Thượng tướng Trần Quang Khải, Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản và Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp cùng em là Nguyễn Truyền tự động mang dân binh các lộ chặn đánh giặc ở các xứ Kinh Thành, Chương Dương. Quân giặc tan hàng, Thoát Hoan và Bình Chương A Lạt tháo chạy ra sông Lô.
  • Ngày 17 tháng 5 năm 1285, Toa Đô và Ô Mã Nhi lại từ ngoài biển đánh vào sông Thiên Mạc, dự tính hội quân ở Kinh Sư để làm thế chi viện cho nhau. Quân binh huyện Phù Ninh cố thủ rồi đẩy lùi được giặc.
  • Ngày 20 tháng 5 năm 1285, Vua và Thượng hoàng tiến quân đóng ở Đại Mang Bộ ven sông Hồng, Tổng quản giặc Nguyên là Trương Hiển đầu hàng. Cùng ngày, quân ta chặn đánh giặc ở Tây Kết, chém đầu nguyên soái Toa Đô. Ô Mã Nhi hoảng sợ nửa đêm bỏ trốn qua cửa sông Thanh Hóa, Vua và Thượng hoàng mang quân đuổi theo, bắt được tàn binh của giặc hơn 50.000 tên. Ô Mã Nhi dùng thuyền vượt biển trốn thoát.
  • Hưng Đạo Vương tiếp tục đánh bại Thoát Hoan và Lý Hằng ở Vạn Kiếp. Lý Hằng dẫn quân hộ vệ Thoát Hoan chạy về Tư Minh. Quân ta dùng tên độc bắn chết Lý Hằng.  Tỳ tướng của giặc là Lý  Quán thu gom được 50.000 tàn quân, giấu Thoát Hoan trong ống đồng rồi chạy trốn về phương bắc. Chạy đến Tư Minh thì bị quân của Hưng Vũ Vương đuổi kịp, dùng tên độc bắn chết Lý Quán, quân Nguyên lại tan vỡ. Quân ta thu được thủ cấp Toa Đô dâng lên vua. Vua cởi áo ngự phủ lên, sai người mang chôn cất.
  • Ngày mồng 6 tháng 6 năm 1285, Vua và Thượng hoàng trở lại Kinh sư, chấm dứt thành công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm lần thứ nhất dưới triều vua Trần Nhân Tông.
  • Tháng giêng năm 1286, Vua cho thả tù binh quân Nguyên về nước.

 

  • Tháng 3 năm 1286, vua Nguyên cho chuẩn bị quân lực, lệnh đóng 300 chiến thuyền sẵn sàng cho việc tái xâm lược.
  • Tháng 6 năm 1286, vua ban lệnh cho các vương hầu, tôn thất đều phải lo việc chiêu mộ binh lính, chuẩn bị thuộc hạ. Vua cũng lệnh cho Hưng Đạo Vương điều động tất cả quân binh, lo việc chế tạo vũ khí,  thuyền bè. Đến tháng 10 thì cho duyệt binh, diễn tập.
  • Tháng 2 năm 1287, có tin quân Nguyên bắt đầu điều động binh lực chia ra nhiều ngã để tấn công nước ta, chuẩn bị binh lương đến 70 vạn thạch do Trương Văn Hổ dùng đường biển chuyển sang.
  • Ngày 14 tháng 11 năm 1286, Trịnh Xiển tâu lên vua việc quân Nguyên bắt đầu xâm phạm ải Phú Lương. Ngày 24, vua lệnh cho Cấm quân đóng giữ ải Lãnh kinh.
  • Hưng Đức Hầu mang quân chặn đánh giặc, dùng tên độc bắn chết rất nhiều. Giặc lui về ải Vũ Cao.
  • Ngày 28 tháng 11 năm 1286, thủy quân đánh giặc ở vụng Đa Mỗ, giết chết rất nhiều, bắt sống 40 tên, thu được thuyền giặc và khí giới.
  • Ngày 26 tháng 12 năm 1286, quân ta thắng lớn một trận nữa.
  • Ngày 30 tháng 12 năm 1286,  thái tử Thoát Hoan và Ô Mã Nhi dẫn 30 vạn quân đánh vào Vạn Kiếp, tiếp tục tiến về hướng đông.
  • Trần Khánh Dư dùng mưu đợi giặc đi qua, chặn phía sau đánh vào đoàn thuyền quân lương, thu được lương thực và khí giới của giặc rất nhiều. Vua sai thả những tên giặc bị bắt ra để chúng chạy về báo tin. Quả nhiên, quân Nguyên biết lương thực đã bị mất liền ra lệnh rút lui.
  • Tháng giêng năm 1288, Ô Mã Nhi quay lại đánh vào phủ Long Hưng. Ngày mồng 8 giao chiến ngoài biển Đại Bàng, ta bắt được 300 thuyền giặc, quân Nguyên chết đuối rất nhiều.
  • Ngày 29 tháng 2 năm 1288, Ô Mã Nhi đánh vào trại Yên Hưng.
  • Ngày 8 tháng 3 năm 1288, quân Nguyên tụ hội về sông Bạch Đặng để đón thuyền lương của Trương Văn Hổ nhưng không gặp. Hưng Đạo Vương dùng chiến thuật đóng cọc dưới lòng sông, đánh tan quân giặc, bắt được 400 thuyền giặc. Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ Ngọc đều bị bắt. Thoát Hoan và A Thai dẫn quân chạy trốn về Tư Minh, bị thổ quan là Hoàng Nghệ bắt mang dâng lên vua.
  • Ngày 27 tháng 3 năm 1288, Vua và Thượng hoàng trở lại Kinh sư, kết thúc thành công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm lần thứ ba trong lịch sử đời Trần.